chữ chạy

THÀ THẮP LÊN MỘT NGỌN ĐÈN LE LÓI CÒN HƠN NGỒI NGUYỀN RỦA BÓNG TỐI

Thứ Bảy, 13 tháng 3, 2010

Để sử dụng hay để yêu thương?


Một người rất thương gởi cho bài này, thấy hay nên đưa lên đây để cùng suy gẫm:

"Trong khi 1 người đàn ông đang đánh bóng chiếc xe của ông ta, thì đứa con trai lớn 4 tuổi của ông ta nhặt lên 1 viên sỏi và vẽ nhiều đường lằn lên phía bên kia cạnh chiếc xe của ông ta.
Trong lúc giận dữ, người đàn ông đó đã nắm lấy bàn tay của đứa con và đánh mạnh nhiều mà không nhận rằng ông ta đang dùng 1 cái cờ lê vặn vít để đánh.
Kết quả là trong bệnh viện, đứa con trai của ông ta đã mất đi hết các ngón tay của mình do quá nhiều chỗ gãy.
Khi đứa con trai nhìn thấy đôi mắt bố mình biểu lộ sự đau đớn, đứa bé bèn hỏi: “Bố ơi ! Khi nào các ngón tay của con mới có thể mọc trở lại?”
Người bố cảm thấy rất đau đớn và không nói được lời nào; ông ta trở lại chiếc xe của mình và đá nó thật nhiều.
Trong khi đang bị lương tâm dằn vặt và đang ngồi đối diện phía hông của chiếc xe đó, ông ta chợt nhìn thấy những vết xước do chính đứa con trai của ông ta đã vẽ rằng: “ Bố ơi ! Con yêu Bố nhiều lắm!”
Và 1 ngày sau đó, người đàn ông đó đã quyết định tự sát…. "

Cơn giận và Tình yêu không bao giờ có giới hạn; nên xin hãy chọn Tình Yêu để được 1 cuộc sống tươi đẹp và đáng yêu, và xin hãy nhớ điều này:
Đồ vật thì để sử dụng, còn con người thì để yêu thương.

Vấn đề của thế giới ngày nay thì ngược lại: con người thì để sử dụng, còn đồ vật thì để yêu thương.
Hãy luôn cố nhớ những ý nghĩa này:

Hãy cẩn thận với những ý nghĩ của bạn, vì bạn sẽ nói chúng.
Hãy cẩn thận với những lời nói của bạn, vì bạn sẽ thực hiện chúng.
Hãy cẩn thận với những hành động của bạn, vì chúng sẽ là thói quen của bạn.
Hãy cẩn thận với những thói quen của bạn, vì chúng sẽ là cá tính của bạn.
Hãy cẩn thận với những cá tính của bạn, vì chúng sẽ quyết định số mệnh của bạn
.

Thứ Sáu, 5 tháng 3, 2010

Những điều tin tưởng căn bản

Lâu này chúng ta học nhiều điều về Phật pháp nhưng nếu có ai hỏi những điều tin tưởng căn bản của Phật giáo là gì thì có khi chúng ta lúng túng hay chỉ đưa ra một vài điểm nhiều lúc .... mơ hồ; do vậy mình gởi lên đây bài này: 14 điều tin tưởng căn bản do ông Henry Steel Olcott, người đã đề nghị cờ Phật giáo thế giới, soạn và được công nhận là đúng với chánh pháp của Phật để anh chị em tham khảo:

I.- Người Phật tử được giáo huấn nên bày tỏ đức tính khoan dung, nhẫn nhục và tình thương huynh đệ không có sự phân biệt đối với tất cả mọi người, và lòng từ tâm quảng đại đối với các phần tử của thế giới loài vật.

II.- Vũ trụ tiến hóa không phải được sáng tạo, và nó hoạt động theo luật (thiên nhiên), không do sự quyết định của bất cứ đấng Thượng Đế (God) nào.

III.- Chân lý mà trên đó Phật Giáo được xây dựng, là tự nhiên. Chúng ta tin rằng giáo pháp ấy được thuyết giảng trong nhiều kiếp (Kalpas) liên tục, bởi các bậc đã giác ngộ gọi là chư Phật; danh từ Phật có nghĩa là “giác ngộ”.

IV.- Vị giáo chủ thứ tư trong đời Hiền Kiếp là Thích Ca Mâu Ni (Sakya Muni) hay Đức Phật Cồ Đàm (Gautama Buddha), người đã sanh ra trong một gia đình hoàng tộc tại Ấn Độ vào khoảng (hơn) 2500 năm trước. Ngài là một nhân vật lịch sử, và tên của Ngài là Tất Đạt Ma Cồ Đàm (Siddhartha Gautama).

V.- (Đức Phật) Thích Ca Mâu Ni dạy rằng vô minh phát sanh ái dục, lòng dục vọng không biết nhàm chán là nguồn gốc của sự luân hồi; và luân hồi, nguyên nhân gây ra phiền não. Cho nên, muốn không còn phiền não, cần phải giải thoát luân hồi, cần phải chấm dứt ái dục; và muốn chấm dứt ái dục, cần phải diệt trừ vô minh.

VI.- Vô minh nuôi dưỡng đức tin rằng luân hồi là điều cần thiết. Khi vô minh đã diệt trừ, sự vô dụng của luân hồi xem như tự nó chấm dứt, được nhận thấy; cũng như nhu cầu cùng tột trong việc thừa nhận một dòng sống mà qua đó, điều cần thiết cho sự tiếp diễn luân hồi như thế, có thể chấm dứt. Vô minh cũng khiến con người có ý niệm sai quấy, phi lý cho rằng đời người chỉ có một kiếp sống; và nhận thức lầm lạc khác tin rằng, cuộc sống này sẽ được tiếp nối theo sau bởi những trạng thái bất biến của hạnh phúc hoặc khổ đau.

VII.- Việc dứt trừ tất cả vô minh có thể đạt tới bằng sự kiên trì thực hiện đức tính vị tha rộng khắp trong hành động; phát triển tánh sáng suốt, trí huệ trong ý tưởng; và đoạn diệt các dục vọng nhằm đến những thú vui cá nhân thấp hèn.

VIII.- Lòng tham dục muốn sống là nguyên nhân của luân hồi, khi dục vọng không còn thì luân hồi chấm dứt ; và nhờ thiền định, con người toàn thiện đạt tới trạng thái cao siêu nhất của sự an tịnh gọi là Niết bàn (Nirvana).

IX.- Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dạy rằng con người có thể xé tan vô minh và đoạn diệt phiền não, nhờ ở sự giác ngộ về Tứ Diệu Đế như sau:
1) Hiện hữu của những sự khổ;
2) Nguồn gốc phát sinh sự khổ, đó là lòng dục vọng, mong được luôn luôn đổi mới, nhằm thỏa mãn chính bản thân mà không bao giờ có thể đạt tới sự chấm dứt;
3) Sự diệt trừ lòng ái dục hay tự mình tránh xa nó.
4) Phương pháp thành tựu sự đoạn diệt lòng ái dục. Những pháp môn mà Đức Phật đã chỉ dạy gọi là Bát Chánh Đạo; đó là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

X.- Chánh định dẫn đến sự giác ngộ tâm linh, hay phát triển Phật tánh (khả năng thành Phật) mà nó tiềm ẩn ở mọi người.

XI.- Tinh hoa của Phật giáo; mà chính Đức Như Lai (Phật) đã tóm lược trong bài kệ là:
Chớ làm điều ác,
Nên làm việc lành,
Giữ tâm ý trong sạch.

XII.- Vũ trụ tùy thuộc vào luật nhân quả tự nhiên gọi là Nghiệp (Karma). Hành động thiện hay ác của con người trong những kiếp trước quyết định cuộc sống của y trong đời hiện tại. Vì vậy mỗi người đã tạo nên những nguyên nhân của mọi kết quả mà hiện nay họ phải lãnh thọ.

XIII.- Những trở ngại cho sự đạt tới thiện nghiệp có thể diệt trừ bằng cách thọ trì các điều răn sau đây mà chúng bao gồm trong giới luật đạo đức của Phật giáo, đó là: 1/ Không được sát sanh, 2/ Không được trộm cắp, 3/ Không được tà hạnh, 4/ Không được nói dối, và 5/ Không được dùng chất làm say, và loại thuốc hay rượu làm ngây dại, đê mê. Năm giới cấm khác mà chúng không cần kể ra đây, nên được thọ trì bởi những ai muốn đạt tới, nhanh chóng hơn người thường cư sĩ tại gia, sự giải thoát khổ đau và luân hồi.

XIV.- Phật giáo không khuyến khích tính cả tin (dị đoan mê tín). Đức Phật Cồ Đàm dạy rằng bổn phận của cha mẹ là giáo dục cho con cái hiểu biết khoa học và văn chương. Ngài cũng dạy rằng mọi người đừng nên tin vào điều gì do bất cứ thánh nhân nào thuyết giảng, ghi chép ở kinh sách, hay được thừa nhận bởi tập quán, trừ khi điều đó phù hợp với lý trí.

Bản dự thảo được xem như nền tảng chung mà tất cả mọi Tông Phái Phật Giáo đều có thể đồng ý.

H.S. Olcott

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2010

Kỹ thuật cải đạo tín đồ Phật giáo

Đọc trên mạng thấy hay nên đưa lên đây cho anh chị em tham khảo
Kỹ thuật cải đạo tín đồ Phật giáo: “Liên tôn”? Minh Thạnh

Vào dịp Tết vừa qua, chương trình BBC tiếng Việt có đăng một tin không vui “Little Saigon khó xử với người đồng tính” (Bản cập nhật ngày 12/2/2010).
Theo tin này, thì việc diễn hành của những người đồng tính luyến ái người Việt sinh sống tại Mỹ đã bị một số tổ chức phản đối, trong đó có “Hội đồng Liên tôn Việt Nam” ở Hoa Kỳ.
Liên tôn Việt Nam tất yếu là phải có Phật giáo, và trong thực tế đã là như thế. Nhưng điều cần lưu ý là ở đây Phật giáo lại có quan điểm như Thiên Chúa giáo, chống lại người đồng tính, một quan điểm trung cổ, phi nhân bản, tàn nhẫn và đi ngược với thời đại.
Bản tin cho chúng ta biết chủ tịch “Hội đồng liên tôn” là một mục sư Tin Lành [Mục sư Trần Thanh Vân và thành viên Phật giáo là Hòa thượng Thích Minh Nguyện – GĐOL]. Trong một kỹ thuật cải đạo tinh vi, ông ta đã nói như sau: “Không kỳ thị, chúng tôi muốn giúp đỡ họ, nhưng vì đây là truyền thống văn hóa , do đó, chúng tôi cần phải duy trì”.
Truyền thống của ai?
Văn hóa của ai?
Đạo Phật, với sự bao dung của mình, đâu có cái truyền thống hay văn hóa tàn nhẫn như vậy.
Vậy là đạo Phật có văn hóa truyền thống như Thiên Chúa giáo hay sao? Từ bao giờ vậy? Hay là chỉ từ khi có khái niệm “liên tôn”, xúc tiến Cơ đốc hóa truyền thống và văn hóa Phật giáo, khiến cho đạo Phật trở nên căng thẳng, gay cấn, nhỏ nhen, hiểm hận và khó chịu như ai đó vậy?
“Liên tôn”, là để người ta phát ngôn thay cho Phật giáo, nói những điều xa lạ với Phật giáo.
“Liên tôn” là một hình thức cải đạo người theo đạo Phật một cách tế nhị. Người thì vẫn theo đạo Phật, nhưng lại bị dán lên đó những nhãn mác xa lạ.
“Liên tôn”, nên có tăng sĩ Phật giáo Việt Nam lên tiếng ủng hộ việc tôn giáo khác đòi đất mà tôn giáo đó có được do phá chùa, đập tượng.
“Liên tôn”, nên có những tăng sĩ Phật giáo, mà khi phát biểu trên đài nọ, đài kia, nếu không nghe giới thiệu trước, thì nghe cứ y như lời của cha cố ở giáo xứ toàn tòng nào đó!
Đọc, nghe những lời “liên tôn” như vậy, chúng tôi ngỡ ngàng, đến lúc nào đó, nhà sư Phật giáo tổ chức lễ Noel trong chùa cũng nên?
Và sự thật đã diễn ra như vậy. Một nhà sư Phật giáo, khi trả lời phỏng vấn của một đài nói tiếng Việt ở nước ngoài, được lưu trữ trên mạng internet, đã xác nhận và thuật lại cái điều khó tin nhưng có thực đó. Nhà sư còn gửi lời chúc Giáng sinh. Không cải đạo, nhưng Chúa đã vào chùa!
Nếu “liên tôn” đúng nghĩa, cho lịch sự, thì người ta cũng phải có Phật đản trong nhà thờ chứ. Điều này không thể xảy ra.
Đưa Chúa vào chùa, người ta đã đưa Phật tử tới gần với cải đạo lắm. Đẩy nhẹ thêm một cái là, như lời một bài hát đã bị sửa đổi để chế giễu:
“Lạy Chúa con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự…trong chùa”
Phần người đứng ra phỏng vấn, thì “A Di Đà Phật” song song với lạy Chúa. Đó là khi họ phỏng vấn sư liên tôn, còn khi phỏng vấn cha liên tôn thì họ chỉ “ơn chúa”. Người phỏng vấn cũng là một người đi mưu toan cải đạo người khác, kêu “A Di Đà Phật” để làm cho lẫn lộn, dễ bề hành sự với người theo đạo Phật đó thôi. Còn cái chính là họ vẫn “ơn chúa” nên… có thầy (nhà sư “liên tôn”).
Rồi có khi, dưới lá cờ “liên tôn”, họ hạ thấp giá trị của những tăng sĩ Phật giáo, và cũng rất tinh vi.
Hội thảo “liên tôn”, người ta mời những đại diện các tôn giáo khác là những tu sĩ được đào tạo kỹ càng, ở các học viện nước ngoài, ăn nói lưu loát, hùng biện, trí thức. Còn mời những “đại diện” Phật giáo là những người ăn nói có phần vấp váp, chân chất, mang phong cách bình dân, tất nhiên do học vấn hạn chế hơn.
Người ta cố ý để cho người nghe so sánh, đối chiếu các đại diện “liên tôn”, dù rằng đại diện cho Phật giáo là không tương xứng chỉ ở chỗ lợi khẩu, nhưng tư thế thấp hẳn đi rõ ràng. Nhưng người nghe ít nhiều gì cũng có sự so sánh, thậm chí là ở hai chương trình riêng, nhưng cố ý đặt cạnh nhau. Nó có tác dụng như thế nào đối với Phật giáo, thì chúng ta có thể nghĩ ra.
Cũng có trường hợp phát biểu liên tôn, nhưng Phật giáo, tôn giáo có số tín đồ đông hơn, chỉ được dành cho vài lời chiếu lệ để trang hoàng cho đủ lễ bộ. “Liên tôn” cứ như là Thiên Chúa là tôn giáo chính của người Việt vậy.
Cái bẫy cải đạo của “liên tôn” đã quá rõ ràng.
Minh Thạnh
Source: http://phattuvietnam.net/3/8952.html - 2/2010